Món quà
Ngô Tự Lập

 
Bờ lởm chởm đá. Chiếc cầu cảng bằng gỗ, nơi chúng tôi buộc tàu, đã mục ruỗng và sụp đổ phần lớn vì bỏ hoang quá lâu. Những đỉnh núi thấp trơ trọi trông như những cái trán hói. Con đường đá bị núi xô ra sát biển, vùng vẫy tuyệt vọng, cố bám vào những mỏm đá ong lỗ chỗ màu gan gà. Qua khỏi một đỉnh dốc bị kẹp giữa hai sườn núi, tôi trông thấy trước mặt khoảnh rừng dương thưa thớt đã chết khô. Sau đó con đường chia làm hai ngả. Tôi quên nói rằng bấy giờ hai bàn chân tôi vẫn còn lành lặn. Tôi rẽ phải, đi khá lâu và tới một thung lũng bằng phẳng, có vẻ đã từng là một cánh đồng nho nhưng bây giờ chỉ còn lại những bụi gai cằn cỗi cao chưa tới đầu gối. Phong cảnh trông hoang vu, mặc dù trước mắt đã hiện ra một xóm nhỏ với những ngôi nhà bằng đá xám.

Ở rìa làng một ông già đang nửa nằm nửa ngồi, lưng tựa vào gốc cây dương cụt ngọn bên đường. Hôm đó trời nóng như hun nhưng ông vẫn mặc chiếc quần dạ xám, chiếc áo vét tông đen bẩn thỉu, đã sờn. Mái tóc thưa, bộ râu dài trắng như cước. Cặp mắt đang đờ đẫn nhìn ra cánh đồng bỗng toát lên vẻ cuồng tín và thánh thiên thường thấy ở những người ả Rập. Thật khó đoán tuổi ông, nhưng chắc chắn không thể dưới bảy mươi. Dưới chân ông có một chiếc cặp da cũ, căng phồng. Cây đàn balalaica khiến ta nghĩ rằng ông là người Nga, còn cái miệng há hốc rõ ràng đang thèm rượu.

Thật đúng lúc, tôi đang cắp nách một chai “Lúa mới”.
- Con là một thằng bé tốt bụng - Mắt ông già vụt sáng lên khi đỡ chai rượu từ tay tôi.
Ông thọc tay vào túi áo, lôi ra một cái cốc gỗ cáu bẩn, kéo vạt áo lau kĩ lưỡng rồi đặt xuống đất, cạnh chai rượu.
Con là một thằng bé tốt bụng - Ông già nhắc lại và thọc tay vào túi bên kia, lần này lôi ra một con cá khô to bằng bàn tay đã bị xé một bên lườn. Ông nâng con cá lên ngang mặt bằng cả hai tay, vẻ trịnh trọng như sắp sửa làm một trò ảo thuật, rồi âu yếm hôn chụt vào môi nó.

Tôi dán mắt vào từng động tác của ông già như bị thôi miên. Ông già dùng răng mở nút chai.
- A hà, thứ chất lỏng hạnh phúc làm sao! - Ông già vừa xuýt xoa vừa nuốt nước bọt thèm thuồng như một đứa trẻ.
Chúng tôi lần lượt uống bằng một chiếc cốc. Câu chuyện giữa hai người đàn ông chỉ thực cởi mở khi rượu đã bắt đầu ngấm. Ông già nói:
- Đi biển ư? Không phải công việc của con! Xưa nay đó vẫn là công việc mạt hạng, chỉ thích hợp với bọn vô công rồi nghề hoặc những kẻ ngông cuồng muốn phất lên nhanh chóng mà thôi.

Khi đó tôi còn trẻ tuổi nhưng đã là một thuyền trưởng lừng danh nên không thể đồng ý với ông. Tôi tranh cãi rất hăng. Đó là thái độ của người đuối lí. Còn ông già thì thủng thẳng từng câu một như muốn kéo dài thời gian. Có thể vì ông lo ngại thấy chai rượu đang vơi đi nhanh chóng. Ông lấy chiếc bong bóng ra khỏi bụng con cá, móc diêm, đánh lửa mà nướng. Ông làm nhẩn nha và hết sức say mê, thỉnh thoảng lại xuýt xoa khi bị lửa xém vào tay. Mỡ cá cháy tanh tách, toả ra mùi thơm quyến rũ.
- Thưa cụ, đây là cá gì? - Tôi quên khuấy chuyện tranh cãi vừa rồi.
Ông già không đáp ngay, chìa cho tôi nửa chiếc bong bóng cá ám khói.
- Ta không nhớ, mà cũng không cần nhớ. Chà chà, ngon tuyệt, đúng vậy không con?

Không thể không đồng ý với ông. Thứ cá này thịt trắng, dai, thơm và ngọt không kém gì mực khô.

Mặt trời ngả dần về phía tây. Khi đã dốc cạn đến giọt rượu cuối cùng, ông già quẳng cái chai không xuống đất, tỉ mỉ nhặt những vụn cá rơi trên áo, cẩn thận nhét chiếc cốc gỗ vào túi rồi nói:
- Thượng Đế đã an bài tất cả, chẳng hạn Người sinh ra con là một thằng bé tốt bụng. Cám ơn con! - Ông già mở chiếc cặp nãy giờ vẫn nằm lăn lóc, lấy ra một đôi giày cũ màu đen - Ta muốn tặng con một món quà. Đôi giày này một nhà tiên tri người Hy Lạp đã tặng cụ tổ dòng họ ta, dòng họ Nôgoe đã từng vinh quang và đông đúc, nhưng than ôi, giờ chỉ còn sót lại mình ta. Ta trao nó lại cho con.

Tôi thử cấu vào tay mình. Khi biết chắc rằng không phải đang nằm mơ, tôi đỡ lấy đôi giày.

Đôi giày quả thực đã rất cũ nhưng hãy còn lành lặn. Nó được đóng bằng một thứ da thô, rất dày, vẫn phẳng phất mùi da sống, có lẽ người ta đã thuộc nó theo một phương pháp cổ xưa nay đã thất truyền. Lúc đó ánh mặt trời chiếu chênh chếch vào đôi giày. Một làn bụi ngũ sắc bốc lên nghi ngút. Lần đầu tiên trong đời tôi được biết thế nào là bụi thời gian.

Cảm giác bồi hồi xen lẫn sợ hãi khó hiểu ập đến khi tôi lật đế giày. Trên gót sắt đã mòn vẹt có những hình khắc kì lạ và dòng chữ ngoằn ngoèo bí ẩn. Tôi ngước mắt, định hỏi ông già xem đó là thứ chữ gì. Nhưng, thật là kinh ngạc, ông già đã biến mất.

Đường trở về tàu lạ và dài. Tôi ngờ mình bị lạc. Đến ngã ba, một người đuổi theo:
- Anh bán giầy phải không? Tôi cần mua một đôi.
Rồi không đợi tôi lắc đầu, anh ta nói tiếp:
- Anh đừng từ chối. Tôi sẽ trả anh với giá gấp ba. Khổ quá, đã bốn năm nay không một ông lái buôn nào đem giày đến bán. Tàu bè cũng chẳng ghé vào. Có lẽ người ta đã lãng quên vùng đất này rồi. - Anh ta chỉ đôi giày há mõm, khâu chằng chịt bằng thứ chỉ gai to màu xám dưới chân - Đôi giày này tôi đã phải sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần rồi. Chung quy chỉ tại trận hạn hán khủng khiếp đã hủy hoại cánh đồng nho màu mỡ của chúng tôi.

Vất vả lắm tôi mới thoát khỏi sự nài nỉ của anh ta nhưng đến rừng dương lại gặp một người khác. Ông này chống gậy, lưng gù, tóc xoã ngang vai, khuôn mặt tròn vàng bủng. Chiếc áo của ông ta may bằng lụa Trung Quốc, dài tới đầu gối và thắt bao lưng cũng may bằng lụa. Trên cổ ông ta lủng lẳng mấy sợi dây chuyền vàng.
- Tôi chính là Lapốc, - Ông ta nhấn mạnh một cách trịnh trọng, đến nỗi tuy không biết Lapốc là ai, tôi cũng hiểu rằng ông ta rất được kính nể ở đây. - Ngài có thể bán lại cho tôi đôi giày của cụ Enten hay không?
Tôi đoán Enten là tên cụ già ban nãy. Còn Lapốc khi nhận được lời từ chối của tôi, chỉ nhã nhặn nghiêng mình:
- Rất tiếc, tôi có thể trả ngài hai trăm ngàn, thậm chí hơn thế nữa. Tiền bạc đối với tôi không quan trọng. - Ông ta vỗ tay vào bao lưng và tôi nghe những tiếng va chạm của vàng.
Hai trăm ngàn - đó là món tiền mà tôi nai lưng ra làm trong năm năm trời cũng không dành dụm nổi. Nhưng món quà của cụ Enten không đơn thuần chỉ là một đôi giày. Tôi chào ông ta rồi đi tiếp.

Lên đến đỉnh dốc, chợt nghe tiếng chó sủa, tôi ngoái lại. Từ trong rừng dương một con chó vằn cao lớn như con bê đang lao đến, lưỡi thè lè đỏ hỏn, theo sau là năm sáu người đàn ông lực lưỡng, tay cầm gậy gộc, mặt hùng hổ, vẻ đầy kích động. Tôi không hiểu nguyên cớ nhưng cứ vùng chạy xuống dốc, hướng ra bờ biển. Vì không ngoảnh lại nên tôi chẳng biết họ có đuổi theo hay không. Lên tàu, tôi lập tức ra lệnh rời biển.

Tôi không hề kể cho ai nghe về chuyện đôi giày nhưng nó trở thành thứ bảo bối của tôi. Thời gian đầu tôi để nó ở nhà. Nhưng một đêm đang ở giữa biển tôi bỗng mơ thấy cụ Enten chui ra từ chiếc giày, trừng mắt nhìn tôi trách móc. Biết ngay là có chuyện chẳng lành, tàu vừa cập bến tôi về nhà bằng chuyến xe đầu tiên. Vợ con tôi bấy giờ chưa bỏ đi. Tôi được biết rằng lũ trẻ cắn vụn đôi giày ra làm đồ chơi. Sau chuyện đó tôi đem đôi giày xuống tàu, gói ghém cẩn thận bằng vải mưa rồi cất kĩ trong tủ.

Những chuyến đi triền miên đã khiến tôi mất sạch vợ con, gia sản. Tuy vậy, tôi vẫn còn giữ được sức khoẻ và đôi giày cho đến năm 1985, khi bị đắm tàu trên đường từ Ba Gà về Tùng Quảng. Anh em ai còn ai mất tôi không rõ. Riêng tôi may mắn bám vào được một mảnh ván, dạt lên Hòn Hạc. Vật duy nhất mà tôi mang theo là món quà của ông lão Enten.

Hòn Hạc cách đất liền chừng sáu bảy ngày chèo tay. Tôi đắn đo mãi rồi quyết định bán đôi giày, mua một chiếc thuyền tốt, các loại thực phẩm và đồ dùng cần thiết để vượt biển. Dự định này hoá ra không thể thực hiện được. Dân Hòn Hạc quen đi chân trần, chẳng ai mua giày làm gì. Mãi sau có người mách tôi đến gặp ông Ba Sa. Ông này là lính thuộc địa cũ, từng đi đánh nhau tận châu Phi, bị thương vào đầu, giờ thỉnh thoảng lại lên cơn động kinh. Ông Ba Sa khen đôi giày còn tốt.

Chúng tôi thoả thuận xong, ông Ba Sa gọi con trai vào, sai cất đôi giày lên gác rồi giao nó nhiệm vụ chèo thuyền chở tôi vào đất liền. Tiền ăn uống trên thuyền khi vào đất liền tôi sẽ thanh toán nốt.
Sau chuyến đó tôi ốm một trận hơn bốn tháng trời và bị liệt cả hai chân cho đến ngày nay.

Hải Phòng 28/07/1990
 
 
Nguồn: dactrung.com

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z