Long lanh như hai vì sao xanh biếc
Cain, James M.

 
Khoảng đứng ngọ chúng lôi tôi xuống từ trên chiếc xe tải chở rơm. Đêm trước, ở biên giới, tôi trèo lên xe và thiếp ngủ tức thì dưới tấm bố. Sau ba tuần ở Tia Juana tôi cần ngủ lấy sức. Tôi đang ngon giấc lúc chúng đổ xe lại chờ máy nguội. Chúng thấy cái chân tôi ló ra, lôi tôi xuống. Tôi tìm chuyện pha trò, nhưng không ổn, đành chịu. Tuy nhiên, chúng cũng cho tôi điếu thuốc, và tôi lại quá giang tìm một chỗ bán thức ăn.
Do vậy, tôi mới tới đây, tới quán Hai Cây Sồi này. Một cái quán bán xăng-uých (1) bên đường, như cả triệu cái quán bán xăng-uých khác, ở California. Phía trước làm tiệm, đằng sau là chỗ để sinh sống. Một bên hông có cây xăng và trong cùng là một chỗ gồm năm, sáu cái chòi được gọi là “sân xe hơi”. Tôi bươn bả đi vào quán, đứng ngó ra hai đầu đường. Tên Hy Lạp bước vô, tôi hỏi có ai lái Cadillac (2) tới chưa. Chúng tôi hẹn nhau để dùng bữa, tôi nói. Chưa thấy mặt ai hôm nay, tên Hy Lạp nói. Hắn dọn một chỗ tại một trong những cái bàn, hỏi tôi muốn ăn gì. Tôi nói một ly cam tươi, cornflakes (3), trứng chiên và bacon (4), enchilada (5), flapjacks (6) và cà phê. Hắn đi ra rồi trở vào ngay, bưng theo ly nước cam và đĩa cornflakes.
“Xin bác một phút… Tôi có điều này cần phải thưa với bác ngay. Nếu bạn tôi không tới, bác vui lòng cho ăn chịu nhé. Nó mời, bởi lúc này tôi hơi kẹt, chẳng còn đồng nào trong túi.”
“Được mà, anh cứ tự nhiên.”
Tôi nhìn, biết hắn đã cắn câu, nên thấy không cần phải tán thêm về thằng bạn lái Cadillac. Nhưng hình như hắn cũng có điều gì bứt rứt.
“Này, anh làm nghề gì?”
“Ôi, đủ thứ. Chi vậy?”
“Anh bao nhiêu tuổi?”
“Hăm bốn”.
“Cha, trẻ trung quá. Nhưng tôi cũng đang cần một cậu để… giúp việc đây”.
“Chỗ này thì số dách”.
“Không khí tốt. Không có sương mù như ở Los. Tuyệt đối không. Hạng nhất. Lúc nào trời cũng trong veo”.
“Đêm hẳn phải tuyệt vời. Tôi đánh mũi biết”.
“Ngủ ngon. Anh biết sửa xe chứ?”
“Sua. Thợ máy bẩm sinh chính là em đây mà”.
Hắn lại bồi thêm về khí hậu tốt, về cái sức kỏe hắn dồi dào từ ngày mua lại cái quán, và điều mà hắn không hiểu nổi, rằng tại sao bọn làm công cho hắn chẳng ở lâu mà cứ bỏ đi hoài. Lý do, tôi dư biết, nhưng phải để bụng.
“Này, anh có thích ở lại đây không?”
Tôi ực hớp cà phê cuối cùng, rồi đốt điếu xì gà hắn vừa đưa cho.
“Nè, thú thật với bác nhé, tôi cũng hơi kẹt. Vì đã có vài chỗ mời rồi. Nhưng bác cứ để thủng thỉnh rồi tôi tính lại”.
Và vào lúc ấy tôi ngó thấy nàng. Nàng đã bận nấu nướng trong bếp, bây giờ mới ra thu dọn. Trừ cái thân hình, nàng cũng không mấy đẹp. Nhưng khuôn mặt nàng có nét lạ hết sức hấp dẫn, trông mới não nùng làm sao. Và làn môi mọng cứ trễ trễ ra, khiến tôi muốn lấy môi mình mà ấn cho nó tụt vào.
“Vợ tôi đó”.
Nàng không buồn nhìn tôi. Để đáp lời, tôi gục gặc nhìn tên Hy Lạp. Tôi ve vẩy điếu xì gà. Và chỉ vậy thôi. Nàng lấy mấy cái dĩa dơ đem vô bếp. Và sau đó, đối với tên Hy Lạp cũng như với tôi, kể như là nàng chẳng hề có mặt. Tôi rời quán một chặp. Chừng năm phút sau tôi quay lại, để nhắn thêm vài lời với người bạn lái Cadillac.
Tôi chỉ mất độ nửa giờ, để mặc cả, nhận việc. Và cuối cùng tôi đã ngồi trong trạm xăng, sửa vá mấy cái lốp hư.
“À quên, anh tên gì?”
“Frank Chambers”.
“Tôi tên Nick Papadakis”.
Chúng tôi bắt tay. Xong, hắn bỏ đi. Một phút sau tôi nghe hắn ca. Giọng hắn rất tốt. Từ trạm xăng, tôi có thể nhìn thấy rõ trong căn bếp.

° ° °

Vào khoảng ba giờ trưa, một tên đỗ xe lại ngay trước quán, càu nhàu, vì có kẻ đã dán một cái lô-gô lên mặt kính chắn gió phía trước. Tôi gỡ tấm kính xuống, mang vô bếp xông hơi nước cho nó tróc ra.
“Enchiladas, chỉ có ông chủ bà chủ quán này là biết nấu thôi.”
“Ông chủ bà chủ nào? Ô hay, anh nói cái gì vậy?”
“Cô và ông Papadakis. Cô với ông Nick. Đĩa enchiladas tôi xơi hồi trưa ngon tuyệt”.
“Ờ”.
“Cô có miếng giẻ dư cho tôi mượn”.
“Chắc anh đâu muốn nói vậy”.
“Muốn chứ”.
“Tưởng tôi là Mễ à?”
“Chả dám”.
“Còn chối nữa, hả? Y hệt tụi kia mà. Nè, nghe đây. Tôi cũng trắng như anh vậy. Tóc tôi tuy có đen, mặt mũi tôi tuy có khác, nhưng tôi cũng trắng chẳng kém anh đâu. Muốn được yên thân ở đây thì nên nhớ kỹ lấy điều ấy”.
“Đâu cần, cô chẳng giống Mễ tí nào cả”.
“Tôi đã nói rồi mà. Tôi cũng trắng như anh vậy mà”.
“Không, cô không có tí gì là Mễ cả. Đàn bà con gái Mễ, họ chân to, mông lớn, vú bự, da vàng, tóc láng lẩy như bôi mỡ heo. Cô đâu có giống họ. Cô bé người, cô mảnh mai, làn da cô trắng mịn, mái tóc cô dợn như tơ đen. Chỉ có hàm răng trắng tinh là giống Mễ thôi. Cô phải trả lại cho họ”.
“Tên tôi là Smith, trước khi lấy chồng. Nghe coi có gì là Mễ không?”
“Không”.
“Vả lại, tôi đâu phải là dân miền này. Quê tôi ở Iowa”.
“Smith hén. Còn tên gọi?”
“Cora. Cứ gọi tôi như thế, nếu anh muốn”.
Tôi đã biết rõ được điều mà trước đó tôi chỉ đoán phỏng. Chẳng phải tại cái món enchiladas, hay tại mái tóc đen. Mà vì đã lấy tên Hy Lạp khiến nàng không còn cảm thấy mình là người da trắng. Với lại nàng cũng có hồi hộp, sợ tôi gọi nàng là bà Papadakis.
“Cora. Được rồi. Cô gọi tôi là Frank nhé”.
Nàng lại đến giúp tôi lau chùi tấm kính. Nàng đứng thật sát, tôi có thể ngửi mùi nàng. Tôi kề tai nàng, thì thầm: “Sao em lấy cái ông già đó chi dzậy?”
Nàng giật bắn người như bị roi cứa. “Kệ tui, mắc mớ gì tới ai”.
“Mắc mớ lắm chớ”.
“Đây nè, tấm kính của anh đó”.
“Cám ơn cô”.
Tôi bước ra kỏi căn bếp. Tôi đã toại nguyện. Tôi đã nhắm trúng đích, thật sâu, thật đau. Từ nay, coi như là chuyện riêng giữa hai đứa. Nàng không thuận, nhưng chắc cũng không nghịch khi đến lúc. Nàng đã hiểu ý tôi, biết rằng tôi đã tóm được nàng rồi.
Trong bữa ăn tối hôm đó, tên Hy Lạp xỉ vả nàng không ngớt. Chỉ vì nàng không chịu đi lấy thêm khoai chiên cho tôi. Hắn mong tôi thích cái chỗ ở mới, để khỏi dọt như các thằng kia.
“Em đi lấy thêm khoai đi”.
“Trên bếp đó. Tự động vào mà lấy không được à?”
“Từ từ. Tôi chưa muốn ăn thêm”.
Tên Hy Lạp lại càu nhàu. Nếu có tí chất xám thì nó phải đoán biết ngay rằng đã có chuyện mờ ám. Vì nàng không thuộc loại đàn bà cứ để mặc cho một gã phải tự tay đi lấy thức ăn. Nhưng hắn quá cù lần. Hắn cứ ngồi đó mà tiếp tục cằn nhằn. Chúng tôi ăn tại cái bàn kê trong căn bếp, hắn một đầu, nàng đầu kia, tôi ở giữa. Tôi không nhìn nàng. Nhưng tôi vẫn thấy được chiếc áo nàng. Một loại đồng phục y tá bằng vải trắng, như họ thường mặc, dù ở phòng mạch nha y, hay trong tiệm bánh mì. Hồi sáng chiếc áo còn sạch, bây giờ nó đã bẩn và nhàu. Tôi ngửi mùi nàng.
“Vẫn chưa đi à?”
Nàng vụt đứng dậy. Trong thoáng chốc, vạt áo hé mở để lộ một mảng đùi non. Nàng đưa dĩa khoai cho tôi, nhưng tôi không nuốt được. “Coi kìa, sướng chưa. Làm rùm beng lên rồi để nguyên đó.”
“Ô hay. Chừng nào hứng thì ăn”.
“Tôi không đói. Hồi trưa ăn nhiều rồi”.
Tên Hy Lạp đối xử với nàng như kẻ chiến thắng. Thắng trận rồi, hắn sẵn lòng bỏ qua tất cả. “Đừng lo ngại cho nàng. Nàng là con bạch yến của ta. Nàng là con bồ câu trắng của ta.”
Hắn nháy mắt ra hiệu với tôi, rồi hắn đi lên lầu. Nàng và tôi vẫn ngồi trơ đấy. Lúc trở xuống, hắn mang theo chai rượu lớn và cây đàn ghi-ta. Hắn rót rượu vào ly, rượu nho Hy Lạp có vị ngọt lờ lợ, uống vào khiến tôi buồn nôn. Hắn khảy đờn và hát. Hắn có giọng tê-no. Không phải nỏ như trên đài. Mà thật to, lúc tới đỉnh nó vút lên, thánh thót nức nở như giọng Caruso trong dĩa. Nhưng tôi không thể ngồi yên mà nghe hắn ca. Mỗi phút trôi qua tôi thấy trong người hết sức khó chịu. Hắn đưa mắt nhìn, biết tôi đang thấy khó ở nên dìu tôi ra sân. “Ra ngoài thở một chút cho dễ chịu.”
“Có gì đâu. Tôi sẽ khỏi ngay mà”.
“Cứ ngồi im. Đừng cử động”.
“Bác vô trong đi. Tại hồi trưa tôi ăn tham quá. Tôi sẽ khỏe ngay mà”.
Hắn bước vào nhà. Tôi nôn ra hết. Bữa trưa, khoai chiên, rượu chát. Cảm thấy khó chịu như đang ở địa ngục. Chỉ tại tôi muốn nàng quá, nên bụng đau, không chứa được thức ăn.
Sáng hôm sau, tấm bảng hiệu bị gió giật rớt xuống đất. Vào khoảng nửa đêm, gió bỗng dưng thổi lộng, càng lúc càng mạnh, cho tới sáng. Trận cuồng phong đã giật ngã bảng hiệu.
“Coi kìa. Ghê quá”.
“Gió to dễ sợ. Cả đêm qua tôi không chợp mắt được”.
“Mặc kệ gió. Nhìn cái bảng hiệu kìa”.
“Cong vẹo hết rồi”.
Tôi lấy búa vỗ vỗ. Thỉnh thoảng hắn bước ra đứng ngó. “Bác đào cái bảng hiệu này ở đâu ra vậy?”
“Có sẵn lúc mua. Tại sao?”
“Xỉn lắm. Làm ăn buôn bán cái con mẹ gì với một cái bảng hiệu như vầy nè”.
Tôi bỏ đi bơm xăng cho khách, để hắn đứng suy ngẫm một mình. Khi trở lại, tôi thấy hắn vẫn đứng tại chỗ cũ ngắm nghía tấm bảng hiệu để dựa tường trước quán. Ba bóng đèn nỏ đã cháy. Khi mắc điện vào, phân nửa các bóng đèn còn lại đã không sáng.
“Anh thay bóng đèn rồi treo lên nhé”.
“Tuân lịnh”.
“Gì thế?”
“Cái bảng hiệu này cổ lỗ quá. Không còn ai xài bảng hiệu gắn bóng đèn như vầy nữa. Bây giờ người ta chơi loại đèn néon, vừa sáng vừa đẹp, lại ít tốn điện. Vả lại, trên cái bảng hiệu cũ này, chỉ riêng hàng chữ Hai Cây Sồi là có đèn, các chữ kia thì tối thui. Theo thiển ý của tôi, Hai Cây Sồi chẳng khiến tôi thấy đói, chẳng giục tôi ngừng xe lại để đớp”.
“Sửa sang lại xong rồi sẽ coi được mà”.
“Sao bác chưa chịu sắm một bảng hiệu mới?”
“Bận”.
Thế nhưng, một lúc sau hắn đã trở ra, cầm miếng giấy nỏ. Hắn đã phác họa một cái bảng hiệu mới, tô bút chì xanh đỏ. Bảng hiệu ghi: “Quán Hai Cây Sồi”, rồi, “Thịt Nướng, Chỗ Nghỉ, Nhà Cầu", và, "N. Papadakis Chủ Nhân Kính Mời”.
“Số dách. Khách sẽ kéo tới đông như kiến.”
Tôi sửa vài lỗi chính tả. Hắn lấy bút chì kẻ thêm vài nét cong cong.
“Bác Nick ơi, việc gì mà phải treo cái bảng hiệu cũ này lên? Sao bác không xuống phố đặt họ làm một cái bảng hiệu mới đi? Tuyệt lắm, và cần lắm. Bảng hiệu nào cửa tiệm ấy, phải không chứ?”
“Ừ, tao sẽ đi ngay.”
Los Angeles chỉ cách xa hai dặm, nhưng hắn cũng chưng diện thật bảnh như đi viếng Paris. Ăn trưa xong hắn lên đường. Hắn đi rồi, tôi đóng cửa trước lại. Tôi nhặt cái đĩa dơ một gã đã để lại trên bàn mang vô bếp. Nàng đang ở đấy.
“Còn một cái đĩa dơ”.
“Cám ơn anh”.
Tôi đặt cái đĩa xuống. Nĩa khua vang như trống.
“Tôi định đi ra ngoài nhưng lỡ tay nấu dở một món nên phải ở lại”.
“Tôi cũng lu bu”.
“Anh đã khỏe chưa?”
“Khỏe”.
“Đôi khi chỉ tại vài thứ lặt vặt. Như nước, chẳng hạn”.
“Chắc là tại tôi ăn nhiều quá”.
“Gì thế?”
Có tiếng đập cửa ở phía trước. “Chắc có ai đang muốn vào”.
“Anh đã khóa cửa lại rồi phải không, Frank?”
“Rồi”.
Nàng nhìn tôi, mặt mày tái mét. Nàng đi lại phía cánh cửa bật, đứng nhìn ra ngoài. Rồi nàng đi vào phòng ăn, nhưng một phút sau đã trở lại chỗ tôi đang đứng.
“Họ đi rồi”.
“Không biết sao tôi đã khóa cửa lại!”
“Mà em cũng đã quên mở cái khóa ra”.
Nàng định bước trở vô phòng ăn nhưng tôi chận nàng lại.
“Thôi ta cứ để cửa… khóa vậy”.
“Cửa khóa thì không ai vào đây được. Em còn nhiều món phải nấu. Và phải rửa cái đĩa dơ nữa”.
Tôi choàng tay ôm siết nàng, áp môi tôi vào môi nàng… “Cắn em đi! cắn em đi!”
Tôi cắn. Răng tôi lún quá sâu vào môi nàng khiến tôi nghe một dòng máu chảy vô miệng tôi. Nó chảy xuống cổ nàng khi tôi bế xốc nàng lên lầu.
Cả hai hôm sau tôi như chết. Tên Hy Lạp dỗi tôi, nên tôi cũng tạm được yên thân. Hắn hờn vì tôi đã quên sửa cánh cửa bật, ngăn chia phòng ăn với căn bếp. Cora đã bảo nàng bị cánh cửa bật đập vào mặt làm dập môi. Môi nàng sưng vù ở chỗ tôi đã cắn. Nàng phải bịa một lý do. Hắn đổ lỗi cho tôi vì tôi đã quên sửa cánh cửa. Tôi vặn cái đinh ốc cho lò xo giãn ra, cánh cửa bật nhẹ hơn, mọi chuyện lại tạm yên.
Nhưng thật ra hắn giận tôi vì cái bảng hiệu. Hắn khoái nó quá cỡ, nên hắn sợ tôi tranh công, bảo đó là sáng kiến của tôi. Cái bảng hiệu do hắn họa vì quá rườm rà nên không thể làm xong ngay trong buổi trưa hôm đó. Phải mất đến ba ngày, và khi đã sẵn sàng, tôi đi lấy về treo lên. Bảng hiệu có đủ các thứ hắn đã vẽ ra trên giấy, cộng thêm vài cái lăng nhăng khác. Một lá cờ Hy Lạp và một lá cờ Mỹ, hai bàn tay trong cái bắt tay thân mật, và Quý Khách Sẽ Được Hài Lòng. Các chữ đều được gắn đèn ống xanh trắng đỏ, và tôi chờ đêm xuống để câu điện vào. Khi tôi bật điện, đèn đóm sáng rực như trên cây thông Giáng Sinh.
“Tôi đã từng thấy vô số bảng hiệu trong đời mình rồi, bác Nick ơi, nhưng thú thật tôi chưa được thấy cái nào đẹp như cái này”.
“Được lắm! Được lắm!”
Chúng tôi bắt tay. Chúng tôi lại là bạn như xưa.
Hôm sau, tôi có được một phút riêng với nàng. Tôi vung tay chụp lấy đùi nàng quá mạnh khiến nàng lảo đảo.
“Anh sao thế?” Nàng gầm gừ như cọp. Tôi rất thích nàng như vậy.
“Em thế nào, Cora?”
“Như gà chết”.
Từ phút đó, tôi lại ngửi mùi nàng.
Một hôm, tên Hy Lạp được tin có một kẻ ở đầu trên chận rước khách đổ xăng của hắn. Hắn lái xe đi do thám. Tôi đang nằm trong phòng khi hắn lái xe đi, tôi chưa kịp lao xuống bếp thì nàng đã hiện ra nơi cửa phòng tôi.
Tôi lại gần nhìn cặp môi nàng. Đó là lần đầu tiên tôi được nhìn kỹ. Chúng đã hết sưng nhưng vết răng vẫn còn hằn rõ bằng những vệt tím bầm. Tôi ve vuốt với mấy ngón tay. Môi nàng ướt mềm. Tôi kề môi lên hôn, rất khẽ. Những nụ hôn nhè nhẹ, be bé. Tôi chưa hề nghĩ tới cặp môi nàng. Nàng ở lại với tôi cho tới lúc tên Hy Lạp về, khoảng một giờ sau. Chúng tôi không làm gì hết. Chỉ nằm bên nhau trên giường. Nàng vuốt tóc tôi và nhìn lên trần nhà như đương suy nghĩ.
“Anh thích bánh blueberry pie (7) chứ?”
“Anh không biết… ờ, thích lắm”.
“Em sẽ làm bánh cho anh ăn”.

° ° °

“Cẩn thận, Frank, coi chừng gãy lò xo”.
“Mặc kệ”.
Chiếc xế nhún nhẩy trên con đường nỏ giữa những gốc cây khuynh diệp. Tên Hy Lạp đã sai chúng tôi mang trả lại các miếng bíp-tết hắn cho là tồi và trên đường về trời bỗng dưng tối. Tôi rẽ vào con đường mòn lồi lõm, chiếc xe rung rinh, dội lên dội xuống và chỉ dừng lại giữa những lùm cây. Tôi chưa kịp tắt đèn pha thì Cora đã ôm choàng lấy tôi. Chúng tôi tận hưởng thỏa thuê. Rồi nhổm dậy, ngồi đó. “Như thế này, em chịu hết nổi rồi, Frank ơi.”
“Anh cũng vậy.”
“Em chịu hết nổi rồi. Em phải cạn ly với anh, Frank. Anh hiểu ý em chứ? Em muốn say sưa nhừ tử với anh!”
“Anh biết.”
“Em tởm thằng Hy Lạp quá.”
“Sao em lấy hắn chi vậy. Em chưa nói cho anh nghe.”
“Em chưa nói cho anh nghe điều gì cả.”
“Chúng ta không muốn phí thì giờ để chuyện trò.”
“Em đã làm thuê cho một cái quán bán thức ăn. Nếu đã làm thuê hai năm trong một cái quán bán thức ăn ở Los thì ta sẽ cuốn gói theo tên đầu tiên đeo chiếc đồng hồ vàng.”
“Em bỏ Iowa ra đi từ hồi nào?”
“Ba năm trước. Em được bầu làm hoa hậu. Giải hoa hậu của trường trung học Des Moines, quê em. Phần thưởng là một chuyến đi thăm Hollywood. Lúc em xuống xe lửa có mười lăm thằng chờ chụp hình em trên sân ga, hai tuần sau em vào quán ăn.”
“Sao em không trở về nhà?”
“Cho thiên hạ cười no nê à?”
“Em có đóng phim không?”
“Có. Em có được mời đóng thử. Khuôn mặt em rất ăn ảnh. Nhưng bây giờ đóng phim phải nói chuyện. Khi em mở miệng ra trên màn bạc, khán giả thấy rõ em là ai, em cũng thấy mình như vậy. Một con nhỏ đáng thương từ Des Moines, có nhiều triển vọng thành công trong ngành điện ảnh như một con khỉ. Chỉ có khác là với khỉ thì khán giả còn có thể cười được. Với em, người ta chỉ thấy buồn nôn thôi.”
“Rồi sao?”
“Hai năm cho bọn đàn ông véo bắp chân rồi để lại vài đồng típ và rủ đi chơi. Em có đi chơi vài đêm, Frank.”
“Rồi sao?”
“Anh hiểu em muốn nói gì chứ?”
“Hiểu.”
“Rồi hắn tới. Em nhận lời, hắn giúp đỡ em nên em ở lại với hắn. Nhưng em chịu hết nổi rồi. Bộ em là con bồ câu trắng hay sao?”
“Không, em là con đĩ chó.”
“Anh hiểu em mà. Với anh, em không cần dối trá. Vì anh sạch. Anh không nhầy. Frank ơi, anh hiểu rõ chứ? Anh không nhầy!”
“Hiểu tí thôi.”
“Em không tin. Bọn đàn ông không thể hiểu nổi điều ấy. Sống chung với một tên nhầy và cảm thấy buồn nôn khi bị nó sờ mó. Em không là chồn tinh đâu, Frank, nhưng thật tình em chịu hết nổi rồi.”
“Em muốn gì?”
“Anh vẫn không chịu hiểu. Ờ, thì em là một con đượi. Nhưng em nghĩ em có thể tốt hơn. Nếu em có được một người không nhầy.”
“Cora, sao tụi mình không trốn đi?”
“Em có nghĩ tới chuyện đó rồi. Nghĩ lung lắm.”
“Tụi mình bỏ tên Hy Lạp và chuồn êm.”
“Để đi đâu?”
“Đâu cũng được mà. Chả sao.”
“Đâu cũng được. Đâu cũng được. Đâu cũng được.. là ở đâu?”
“Ở mọi nơi. Ở chỗ nào mà em thích.”
“Không, như vậy là sẽ phải lộn về một cái quán.”
“Làm gì có chuyện quán. Anh nghĩ tới một cuộc đời phiêu lãng. Vui lắm, Cora ơi. Không ai thạo hơn anh. Anh biết rõ từng khúc quành, mọi đường cụt. Anh biết cách xoay trở. Em không muốn thế sao? Hai đứa mình sẽ sống lang thang, vì chúng mình đều thuộc nòi lãng tử.”
“Anh đã là lãng tử thứ thiệt, một đôi vớ cũng không có!”
“Nhưng em đã thích anh mà.”
“Em yêu anh. Em sẽ còn yêu anh dù anh không có một tấm áo trên lưng. Và em sẽ yêu anh tợn hơn nữa nếu anh trụi trần, vì như vậy em dễ cảm nhận hơn sự êm ái và cái sức mạnh của bờ vai anh.”
“Đấm đá các tên thám tử trên xe lửa khiến bắp thịt ta thêm vạm vỡ.”
“Anh rắn như gỗ. Anh cao lớn, khỏe mạnh, cứng cáp. Tóc anh màu nhạt. Anh không già, béo, lùn, tóc xoắn đen nhầy nhụa vì bôi dầu mỗi tối.”
“Xức dầu thì thơm.”
“Không được đâu, Frank. Con đường ấy không đưa chúng ta đến đâu cả ngoại trừ một cái quán ăn tồi. Cái quán tồi cho em, và một công việc tương tợ cho anh. Một cái dốp mạt rệp tại một bãi đậu xe trong một bộ áo liền quần. Em sẽ phát khóc nếu phải thấy anh trong một bộ đồ liền quần, Frank ơi.”
“Vậy thời sao?”
Nàng ngồi im một hồi lâu, nàng mân mê siết chặt bàn tay tôi trong hai tay nàng. “Frank, anh có yêu em không?”
“Có.”
“Yêu em đến đỗi không còn chuyện gì đáng kể nữa?”
“Đúng.”
“Vậy thời chỉ còn một cách thôi.”
“Em đã bảo rằng em không phải là một con đượi kia mà!”
“Em đã nói vậy và em đã nghĩ vậy. Em không như anh tưởng đâu, Frank. Em chỉ muốn làm lụng hết sức mình để trở thành một kẻ đàng hoàng, thế thôi. Nhưng em không thể làm vậy nếu thiếu tình yêu. Anh hiểu em chứ, Frank? Chí ít là phải như vậy đối với bọn phụ nữ. Em đã lầm lỡ một lần rồi. Em chỉ cần hành động như một con đượi thật sự, một lần thôi, để sửa sai. Nhưng em thật tình không xấu xa như vậy đâu, Frank ơi”.
“Em sẽ bị treo cổ.”
“Không, nếu mình tính toán thật kỹ. Anh rất can đảm, em đã đoán biết. Em đã không qua mặt anh được. Anh chỉ cần suy nghĩ tí thôi. Có cả trăm cả ngàn cách. Anh đừng ngại. Em không là kẻ đầu tiên hành động như vậy để thoát nguy.”
“Hắn có làm gì anh đâu. Hắn có vẻ hiền lành.”
“Đối với anh. Nhưng đối với em thì hắn thối tha. Nhầy và thối. Bộ anh nghĩ rằng em có thể để cho anh khoác một bộ áo liền quần với dòng chữ “ Sửa Máy Xe Hơi – Cảm Tạ Quí Khách – Hẹn Tái Ngộ” trên lưng, trong lúc hắn có tới bốn bộ áo vét và một tá sơ mi lụa? Phân nửa giang sơn của hắn không thuộc về em à? Bộ em không phải nấu nướng và nấu nướng những món tuyệt ngon hay sao? Bộ anh không có đóng góp phần của anh vào đó hay sao?”
“Em nói nghe phải lắm.”
“Đâu có ai biết rõ chuyện phải trái hơn anh và em.”
“Anh và em.”
“Đúng, Frank ơi. Không phải anh và em và con đường, hay một cái gì khác đâu, mà chỉ vỏn vẹn anh và em mà thôi.”
“Cô phải là quỉ cái mới thuyết phục được tôi như vậy.”
“Tốt. Thôi, hôn em đi, Frank. Hôn môi.”
Tôi hôn nàng. Đôi mắt nàng sáng long lanh như hai vì sao xanh biếc. Như thể chúng tôi đang ở trong một ngôi thánh đường.

Nguyễn Đăng Thường dịch. Nguyên tác tiếng Anh: The Postman - Nxb. Knopf, 1934.

Chú thích:
(1) Xăng-uých (sandwich, 1762): bánh mì hai lát kẹp thịt dăm-bông, do người đầu bếp sáng chế, để chủ mình là Huân tước Sandwich, một nhà quí tộc người Anh, có thể dùng bữa tại bàn đánh bạc trong lúc chơi bài.
(2) Cadillac: một loại xe hơi Mỹ đắt tiền.
(3) Cornflakes: các vụn bánh phồng (flakes) bằng ngô (corn), rưới sữa tươi để ăn điểm tâm.
(4) Bacon: lát thịt heo ba chỉ muối, rán dòn, ăn chung với trứng gà rán nguyên tròng và xúc xích. Một món điểm tâm rất thông dụng của Mỹ và Anh, nhưng nay đã lỗi thời vì có quá nhiều muối, mỡ và chất cholesterol.
(5) Enchilada: một món Mễ Tây Cơ nấu với thịt bằm và ớt.
(6) Flapjacks: bánh ngọt làm bằng cốm lúa mạch.
(7) Blueberry pie: bánh ngọt đặc biệt của Mỹ có những trái dâu tươi (blueberry) bé và tròn màu tím than gần như đen. Cherry pie (với anh đào), apple pie (với táo) và blueberry pie gợi sự âu yếm và không khí gia đình ấm cúng.
 
 
Nguồn: evan.vnexpress.net

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z