Dị ứng xương
Minh Chung

 
Đúng vào lúc hắn định hớp miếng cà phê cuối cùng ngon nhất ly thì hắn phải dừng lại. Một bàn tay chìa ra như muốn chặn. Hắn tính quát thằng nhỏ bán vé số vô duyên, nhưng đã kịp nuốt ngay khối từ ngữ vừa thực tế vừa thô bỉ ấy xuống bụng. Một bàn tay phụ nữ sang trọng bởi ánh vàng lập loè nói lên như thế. Phía trên nó là sợi dây da thuộc của một chiếc ví đầm chớp giằng bởi những hột đá mầu đính vô tội vạ trên ấy. Lên nữa, bả vai để trần dốc ngược lên chiếc cằm quyền quý, bảo hiểm cho nụ cười không phải của hạng bình dân quen nhận tiền vào sau cữ chiều đến.

Người đẹp ngồi xuống ghế đối diện, quan sát hắn bằng lối nhìn người độc đáo, na ná như loài linh miêu. Hắn đề phòng bằng cách giơ ly cà phê nguội làm ranh giới. Các bàn bên đều vô tâm. Nhạc đóng hộp văng ra đầy vất vả, tạo độc lập cho từng bàn uống một.

- Đi à?... - hắn ướm nhời suồng sã - Bữa nay…

Người đẹp lạ mặt chuyển thêm sang tay phải chiếc găng mềm có mầu giông giống như là đêm khuya:

- Tôi là Bún!

Hắn bị hẫng. Song tình thế trang trọng của giáp mặt thế này làm hắn phải nỗ lực mời gọi sự hảo tâm của trí nhớ… Cha mẹ ơi ...! Bún nào thế nhỉ? Quen đấy mà lạ cũng đấy mới tẽn chứ? Nhỉ!

- Tôi đến theo địa chỉ của anh, nhưng xung quanh họ ấy bảo giờ này chỉ tìm anh chỗ này là thấy - “phái yếu” gợi mở bằng giọng chững chạc xen lẫn vẻ bực bội đến dịu dàng một cách cố ý -

Phải! - hắn gật gù nhằm lấp đi sự khiếm nhã, để tiếp tục lặn hụp trong cái “hộp đen” rối như canh hẹ trong đầu, tìm cho ra cái nhà chị “Bún” riêu, bún mọc đương lồ lộ và thơm nhói lên trước mặt hắn - độc thân mà, chị! – hắn lại nhăn nhở nối lời với người tìm gặp, hòng lấp liếm tệ u tối của trí nhớ -

Chị “Bún” nhẫn nại giỏng tai nghe, mắt đảo từng vòng to nhỏ tới bốn bề nhem nhuốc của cuộc vào đêm ở một ngã tư phường trọ. Chị trông cả thấy cái gật đầu ý tứ của người lái xe kiêm cận vệ phía sau cánh cửa chiếc xe Accord sáng chồng lên sáng ở phía hè đường bên kia kìa.

- Vâng, ta đi…

Hắn dằn ly cà phê xuống một cách dứt khoát. Ngấn nước đen nâu dưới bông hoa thủy tinh vẽ ngoài ly sóng nhẹ lên. Điều ấy giải nghĩa đức hy sinh cao cả của hắn cho bộ nhớ đã bắt đầu he hé vì rút cục hắn đã “mót” được tiếng “Bún” trong mớ từ vựng nghèo túng mà lại dùng xẻn xo xưa rày của mình. Thậm chí hắn biết rành cuộc viếng thăm đột ngột làm hắn chua cả miệng vì ngụm cà phê đáy li dang dở này nữa cơ. Nhưng hắn lại vừa nghe thấy lời mách bảo từ trí khôn rằng chớ có nông nổi ẩu - cho dẫu sau xưa gì thì hắn vốn dĩ là gã phiêu lưu “gin” mà thôi - Hắn bíu lấy vách ghế trên, nói chõ lên:

- Chị Bún mới vô…?

Chị chủ xe nhướng mày trong kính chiếu hậu:

- Công tác kết hợp. Gọi tôi theo cái này.

Hắn đón từ tay người đàn bà hách dịch tấm danh thiếp, thấy ơn ớn bởi ánh xà cừ từ mặt giấy nháo nhác bốc lên. Hắn đọc trầm tên: Bà TRẦN THỊ BÁN NGUYỆT in bằng vàng, với chức danh mà hắn đã từng biết năm trước: điều hành viên quốc tế của cơ quan quản lý người Việt ở nước ngoài và ngược lại. Thêm cái địa chỉ xinh xinh in dưới góc, nhắc trí nhớ hắn mở lại vầng ánh sáng chan hòa, soi rõ những sợi dây thép đen lấp ló ở phía sau hàng cây tiêu huyền Trung đông xanh thót dạ, hồi hắn dừng chân ở Hà Nội, giữa một phố xây lối thuộc địa sang cả và rợp bóng bí ẩn. Càng hiểm trọng hơn khi hắn hỏi dò, được những người thạo tin bảo rằng chính nhờ có những sợi dây thép cấy từ trường (?) phủ tiêu huyền ấy mà ngôi nhà cắm chặt xuống đến tận âm ty địa ngục cũng chẳng sợ gì nghiêng ngả lung lay. Hắn ý thức khá nhanh việc cải tiến từ cái tên sữa thô vụng Bún ra mỹ danh giòn giã Bán Nguyệt thật là nửa vời, lại bọc vào với ngôi nhà “từ trường” ấy. Và chuyến đi trần đời khốn nạn kia. Chúng là cả một cuộn dây rối rắm chằng buộc kí ức của hắn lại. Chằng cẩu thả nhưng mà chắc chắn mới chết chứ!

Bà Nguyệt - gọi thế đi, cho nó đúng thực trạng - lại chuyển xuống cho hắn một chiếc bì thư hơi cu cũ:

- Phải cái này của anh? - bà hất cho tóc thành vô số các cái dấu hỏi nhỏ. -

Hắn “phải” vì ngầm hiểu mùi thơm trên các dòng chữ viết vội ở trên mảnh giấy kia của hắn, chẳng qua chúng mới ám lên đấy thôi chứ hắn thì có bao giờ bôi dầu thơm? Mà thì giờ đâu cơ chứ?

- Anh thấy không? Tôi nhận ra anh ngay khi ngó vào quán cà phê xổm ban nãy. Sao? Ngượng gì? Ở Pari, Bon… nhất là “Ba-lê hoa lệ” ngồi cà phê bình dân là mốt của thanh niên quý tộc hiện đại đấy. “Nhót” thả cửa mà lị! Còn hạng sống “boóc-đuya” (1), tuổi tác tầm tầm như anh với tôi, người ta lặn trong những cái “boát” nhỏ, rất riêng. Ở đó tha hồ nhấm nháp cái ngày xưa hoang toàng để ra nông nỗi bây giờ “lực bất tòng tâm” ấy mà. Hầu hết các bố cúi gằm xuống chỗ giữa hai đùi, nốc cồn và … tư duy! Cũng có thể họ đang âm mưu. Anh hiểu chứ?

Thực sự hắn chẳng hiểu đầu đuôi gì nhưng vẫn gật. Hắn chiều lòng bà khách quyền uy - với ai khác chứ dĩ nhiên không nát nổi hắn - vì suy cho cùng, bà Bán Nguỵệt đây là khách của hắn hôm nay cơ mà. Hiếu khách là mặt bên phải của người ít tiền mà lại.

- Đủ chứ?

Bà Nguyệt đặt câu hỏi, giống như lối hất hàm mỗi khi qua bàn hải quan sân bay một phương trời nào đấy. Hắn mếu xệu nhằm xí xoá sự câu nệ, thật ra, chẳng cần có của bà Nguyệt. Bà ta vẫn nhìn hắn qua gương:

- Tôi còn cho anh những giấy khác khi về nhà, đảm bảo cho chuyến hàng “nặng đồng cân” này.

Hắn suýt phì cười, nhưng uyển chuyển đáp lại - cũng tinh tế như bà khách đã sộp lại diệu vợi này:

- Tất nhiên tôi cũng giao cho chị thứ thịệt, đủ mọi giấy má cắc cớ chứùng minh nhân thân đương sự mà chị cần xăm soi lắm lắm.

Lần đầu tiên bà Nguyệt ngoái xuống:
- Vé-ry-gút đấy! Ô kê hở?

Hắn nắm bàn tay bà Nguyệt - cô Bún trong tâm tưởng - như muốn truyền sang đấy tình thương yêu tuyệt vời mà Tấn ký thác vào. Thêm chút xíu: sự hàm ơn có pha một tẹo vụ lợi (ô hay! sao không nhỉ?) Tay nàng mềm và hơi khô! Chắc là vì gió bốn phương bọc trên da thịt những chiếc tay vịn cánh cửa phi trường đây mà. Chúng lại còn nhuộm cả lên da nàng như thể một phản ứng hoá học nữa đây này!

Xe trôi êm vội trong ánh chiều cạn nhưng hơi nông nổi, về phía cái gọi là nhà. Nhà hắn...

° ° °

Đầu đuôi câu chuyện này là do hắn mắc chứng dị ứng xương. Kẻ đương sống trong cái thế gian đương “phủ sóng” kín mít bằng nền văn minh phồn thực này mà hễ nhòm thấy nồi nước dùng hiệu phở, bỗng như phải vía, người ngợm ngứa ngáy, gãi cào gãi cấu khắp chỗ cùng nơi… thì có họa ấy là hạng người đời, sắp “đi đứt” tới nơi. Thế mà chính hắn chứ không phải ai khác, dính dáng một cách quả báo với chứng bệnh khó chịu ấy mới chết chứ!

Dạo ấy hắn mới ra tù. Vượt biển trái phép. Tay trắng, lại không nơi bấu víu (cha mẹ hắn đã đào thoát chuyến trước đó an lành, còn vợ hắn thì bỏ xương lại ngoài bể sau khi bị những người đồng hành, trong cơn đói và hấp hối, xẻ thịt ngay trước mắt hắn, duy nhất hắn được cứu thoát vào trại giam). Hắn cuống lên vì thế là lại bị sống sau những ngày khá tự do trong nhà tù rồi phải thả ra. Hắn biết rằng sống chẳng dễ vì cuộc đời không phải là cái bị hứa để cho ta chỉ việc thò tay vào khoắng cái là được mê tơi! Gặp hồi đâu đâu cũng thất bát, đói kém đến nỗi không bói đâu cho ra một cái trại tế bần để mà tá túc qua ngày đoạn tháng, hắn vận động trí não toát mồ hôi ra trước những tiệm ăn, nhà hàng, sạp chợ đầu chõng… mới nẩy ra sáng kiến đi câu và chạy chợ. Nói chữ thế cho oai chứ kỳ thực là hắn đi tát, đi nơm ở những ao đìa, ngòi rạch hoang hủy. Chiến tranh đi qua, để lại cơ man những hố bom sâu nông khó dò và hình thù thì đủ để vẽ lại trong một cuốn sách dầy cộ, xem mỏi mắt chưa vơi. Cá cua ếch nhái, thủy tộc muôn loài thi nhau sinh sôi trong ấy cho nên nhì nhằng quanh buổi thôi thì tối đến cũng gọi là có cái mặn miệng “ngó lên chửa bằng ai nhưng nói trộm vía ông Giời, dòm xuống thì chưa chắc gì ai đã bằng mình!”.

Một hôm đi sâu vào gầm một cây cầu trên xa lộ, hắn phát giác một ụ mối hết sức kỳ dị. Nó - cái ụ mối - nằm thèo đảnh tận trần gầm và sùi thành một đống ở chỗ đá kè mố cầu. “Biết đâu Giời có mắt?”. Hắn thọc tay vào túi quần, điều chỉnh niềm sung sướng sắp hiện ra sau cú liếc mắt trao duyên của Đấng toàn năng. Hắn trèo lên đào bới ụ mối “ hiện xuống” đầy cám dỗ trên cao, cảm cả thấy sự úy lạo của thượng đế qua nhịp rung bần bật như là có xe nào đang đi trên đầu. Té ra bên trong là một cái hang rộng không biết do ai khơi những khối đá kè ra để làm nơi trú ngu thì phải. Chui đầu vào, chỉ quờ tay rộng đã thấy cạn hang chứng tỏ nó khá nông choèn. Thực ra nó - cái hang nhân tạo - chỉ vừa đủ cho một người nhỏ nhắn nằm co quắp không hơn. Nhưng người ấy đã chết. Lâu rồi! Đúng hơn, chỉ còn lại đấy một bộ xương người ở tư thế nằm sấp, đầu hướng ra cửa hang, tức về phía có nước, không khí và ánh sáng gầm cầu, Trong hang còn nguyên một khẩu súng trường, dĩ nhiên đã sùi ra quanh nòng một thứ “nước mắt nến” vàng đỏ như là màu máu đương bạc dần đi. Khẩu súng này hôm sau hắn đem bán cho tiệm sắt vụn đổi vừa vặn một bữa cơm ngon, nghĩa là có hớp cà phê cuối bữa làm dấu. Chiếc bòng quân dụng lép kẹp đựng bên trong tinh những thứ vớ vẩn, mục nát. Duy chỉ có mớ giấy tơ, do được gói bao trong ny lông, hãy còn khá tươm. Đọc được chữ, ít phải luận nhiều, nhưng nếu sốt ruột lật trang mà hơi phũ là mất tiệt nhời nhẽ của người chết. Nhờ đám chữ nghĩa sót lại này, hắn lờ mờ nhìn thấy hình hài một con người. Anh ấy có tên là Tấn, quê ở Bột xuyên. Một cái làng rất đẹp, nơi gặp gỡ của hai con sông nhỏ trước khi chúng rủ nhau đổ vào sông Cái - sông Hồng ở tận ngoài bắc xa xôi - và rồi hoà tan vào với biển cả. Song sắc đẹp của Bột xuyên được tô thắm và trở nên không quên nổi chính là vì ở đấy có Bún. Chính nhờ cô, con sông nhỏ chảy qua làng đã cho Tấn nhận ra vị ngọt đậm hơn của nước, cho Tấn cảm giác khi thì dài ra khi lại ngắn lại của con đường lát vỏ hến chạy song song với sông. Những kích thước kỳ lạ ấy sau này chúng được gấp vào mở ra nối thành bao nhiêu con đường ngược xuôi rộng dài cùng đất nước. Tình yêu thơ dại và nồng nàn mùi hoa chanh kia không ngưng lại khi Bún vô thánh đường khoa học (trường đại học) còn Tấn thì ra trận. Tình yêu ấy dù mang mầu sắc “bái thần giáo duy vật” không hợp với thói quen tự do của hắn, song cũng làm cho hắn run rẩy, kính trọng cả hai người.

Tấn bị trúng một viên đạn lạc đúng vào giữa buổi sáng cuối cùng của chiến tranh. Đương hành quân với kích thích phía trước vơi đầy bao hiểm nguy và phơi phới, Tấn phải nằm lại ven đường chờ cứu thương sẽ lên từ sau lưng. Càng ngỏng cổ lên ngóng trông, anh càng thấy mình đi giật lùi, trong lúc con đường thì phình ra, oằn xuống. Khát, đói, chật chội “hút” anh xuống con suối sâu hơn mặt xa lộ dễ dến hơn mười mét. Tấn bị gãy thêm chân bên trái. Thế là mặt đường và gầm cầu đã trở nên hai nửa âm dương - đúng đến từng chữ một - đối với Tấn. Tấn phải vật lộn với đau đớn, nhớ nhung và cô đơn cho dến chết. Những giòng chữ sót lại trình bày cực kỳ cay nghiệt trạng thái này, không phải chỉ căn cứ ở nội dung của nó. Cái ngày mà bút và con người Tấn đã kiệt quệ máu (tức là sức sống), Tấn đánh dấu là ngày 9/5, nhưng nếu trừ đi sự nhầm lẫn không đáng trách tý nào do có lần Tấn đếm tận 31 tháng 4 (?) lên giấy tờ thì rõ ràng Tấn qua đời vào khoảng trung tuần tháng 5 năm l975 ngay ở cửa vào Sài Gòn…

Hắn không biết xúc động theo kiểu những đồng ngũ của Tấn, đơn giản vì hắn sống ở một miền tục lụy khác Tấn. Cũng chẳng thút thít nhiều về thói yêu chiều (như mối tình Tấn Bún được mô dựng trên những trang giấy mủn nát còn sót kia). Khi người ta đã tận mắt chứng kiến người khác cắt thịt vợ mình ra ăn để tồn tại, thì xúc cảm qủa là một món xa xỉ (!). Hắn thử đặt mình vào ngôi vị của Tấn và phiêu lưu trong những giấc mơ chẳng có đầu có đũa nào. Cuối cùng, hắn đành bấm bụng trở lại hang gầm cầu, gói ghém bộ xương của Tấn mang về nhà “bầu bạn”. Từng đêm hắn vừa lẩm nhẩm những lời trong nhật ký của Tấn vừa hỏi đáp một mình về từng “chủ đề” một - như người ta nói - và về đủ mọi thứ trên đời. Hóa ra hắn đương nói chuyện với Tấn - đúng hơn với bộ xương anh ta - như hai tay đồng hương (ôi chao! cùng sống trên đời không phải là đồng hương sao?) đồng đội (cũng thế, cùng ghét những thói giả nhân nghĩa như nhau, chẳng phải đồng đội, còn gì?)… Lâu ngày hắn tâm nguyện sẽ đưa bằng được Tấn trở về quê quán, giao tận tay chị Bún hoặc bà mẹ, dĩ nhiên là chừng nào có tiền. Thế rồi tiền đến thật. Cầu được ước thấy nhé! Chẳng là thế này: cha mẹ hắn từ bên kia đại dương rót sữa về tận miệng hắn như mọi người vượt biển thoát được tới bờ. Hắn nhanh nhảu sắp đặt một chuyến đi, tuy không xa xôi và vô định như cái chuyến ra khơi năm nào, nhưng cũng lạ lẫm chẳng kém. Tận Bột Xuyên đầu kia ngàn núi trăm sông của nước mình. Song “đường ở mồm” như người ta thường nói. Lo gì? Vả lại thử hỏi cha mẹ hắn đã biết nứơc Mỹ bao giờ mà sao đến được tận nơi, mà còn kiếm được vô thiên lủng nữa mới bạo chứ? Nhưng, đúng vào hôm hắn đi mua vé tàu lửa, ngồi chờ trong một qúan cửa ga, mùi nước lèo xồng xộc lao qua mũi miệng xuống tận gan ruột làm cho hắn đến muốn ngốn sạch quán người ta. Hắn gọi một đĩa “bốc mộ” thơm trần đời. Không phải túng quẫn. Ngược lại ấy chứ? Cái “gu” của hắn như vậy. Hắn cũng chẳng bận tâm lắm đến câu hỏi có phải đấy là sự tồn di một thứ mặc cảm sống của loài người lấm láp chúng ta hay không (thói quen thích gặm xương) như lời rao phán huênh hoang của gã thầy thuốc chữa bệnh cho hắn sau lần khoái khẩu cuối cùng ấy. Bệnh đâu có thứ bệnh lạ bệnh lùng đến như vậy? Ngứa kỳ cùng thân thể, chẳng còn sót lại chỗ nào không. Gãi tới đâu, người như phải bỏng chỗ ấy. Ban ngày đi tìm thầy tìm thuốc, đêm đến hắn lại bù khú với Tấn bằng cách độc thọai và lắng nghe trong vô tận của đêm, giọng nói vàng vọt của Tấn lỗ mỗ dội qua trí khôn thức-mơ nhoè nhoẹt của hắn: “Tớ ở lại đi đêm với cậu cho hết ván tam cúc này đã. Hở? Bao giờ lên bài thấy hai tay đều xấu, ta chui luôn cả đôi tốt hỉn chúng mình một lúc là xong …?” Hắn ừ, hủy chuyến đi thứ nhất. Nhưng chứng ngứa quái quỷ thì không buông tha hắn. Lần sau đau hơn lần trước. Mật độ mau lại, không hứa hẹn gì về độ giãn ra như những viên thuốc nuốt rát họng và lời cao rao về khoảng cách giữa người uống - là hắn - với viên Diêm sứ thập thò. Hắn lo hãi, sợ mình không giữ nổi lời hứa với bộ xương anh Tấn. Hắn quyết chí trả Tấn về con đường và con sông của anh kẻo thời gian để gãi sẽ chiếm trọn mọi sinh hoạt khác của đời hắn mất. Khi ấy thì nói chi tới chuyện “vào đôi” tốt hỉn với Tấn để mà cùng chui với nhau? Thế là vừa chịu cực hình vì căn bệnh dị ứng xương, hắn vùa nhắm hướng Bột Xuyên thẳng tiến nhờ một chuyến tàu ra bốn mươi tám giờ đồng hồ, hai chân của hắn không thể nói là đương đặt trên sàn toa...!

Lần tới được cái làng Bột biền biệt khói xăng dầu (không phải khói sương mờ mịt cánh xoan bay); mỏi chồn cả đôi đầu gối với hai cái gan bàn chân tựa hồ bánh đa nướng, trên con đường thiên nan vạn nan từ đầu đê tới ngõ bìm bìm nhà Tấn. Tất cả đã khác! Là nói so với những dòng nhật ký thấm đẫm nước mắt nước mũi của Tấn, chứ hắn nào đã một lần đặt chân tới Bột? Tre pheo nghiêng ngả, sân sướng dở dang gạch một nơi, vữa vôi đóng vón một nẻo. Điều nói lên rõ hơn cả về bà mẹ đứng ngồi ở đầu con đường sống chết của Tấn là một căn lều bếp hoang lạnh, lâu lắm mới lăn tăn tiếng nỉ non của lũ dế than thở. Hắn được biết người mẹ cả tin của Tấn đã mất. Bà tự kết thúc cuộc đợi chờ khủng khiếp bằng một gáo thuốc trừ sâu. Không phải bà cạn lòng vì thức. Tất cả mọi bà mẹ trên thế gian này đều thừa sức chờ đợi đến hai lần đời mình. Mẹ Tấn bị dồn đuổi đến tận cùng thời gian vì những tin tức về Tấn: đào ngũ, đầu hàng và còn hơn thế…theo địch, chứ làm gì mà Tấn lặng yên lâu như vậy? Hắn lấy tư cách gì để bênh Tấn, nếu người đó không phải đích thân chị Bún? Hắn tức tốc sang xe, xốc gói xương cốt Tấn trên nách, lần mò ra Hà Nội vì người dưới Bột mách cho hắn hay Bún bây giờ giữ một chân lớn ngoài ấy. Quả như lời đồn. Chị ấy có biệt thự lõng thõng những dây nhợ. Thấy bảo rằng đấy là giống tiêu huyền thiên di từ Trung đông về. Gớm thế! giống cây từ đất sa mạc nóng như lò than tiệm phở mà cũng quen thung quen thổ xứ mình cơ đấy. Quý hoá vậy! Thế nhưng chị ấy lại vừa mới ra sân bay...

° ° °

Hắn hướng dẫn cho bà Bán Nguyệt vào gian tiếp khách. Nhưng thật thừa, bà rành rẽ chẳng ít hơn hắn mấy nỗi. Người lái xe cũng chỉnh chện vào một chỗ không thể chọn khác : vừøa trông thống ra đường tiện coi xe, lại vừa chẵn một tầm với tới bà chủ hoặc vị chủ nhà khi cần thiết. Bà Nguyệt nói phũ khi thấy hắn dò xét bằng mắt:

- Anh ấy là thành viên.

- Tại vì ngại trẻ con ở ngoải - hắn chữa vẻ khiếm nhã - phố này thưa đơn…

Viên tài xế nhanh nhẹn như một võ quan nhà nghề chìa ra một thứ từa tựa hộp điều khiển từ xa của máy thu hình: “Xe tuyệt đối an toàn nhờ cái này”.

Hắn khiêm khiếp cách tự nhiên. Nhất là khi hắn thấy - như giữa sàn diễn rạp xiếc - la liệt trên bàn, đủ mọi thức ăn thức uống sặc sỡ, sột soạt, tuy ở dạng nguội song chúng là của hiếm kinh khủng. Và chúng còn đang tuôn ra nữa, y như từ mộït cái túi ba gang lời ước nào đấy rất vô hình vô ảnh, phía dưới chân bà Nguyệt kia.

- Chúng ta vào việc. Nào! - bà lịch thiệp, đon đả và cũng khẩn trương - Tôi đã làm việc với quận và phường về anh. À không, không có gì đâu. Chỉ để kiểm lại độ tin cậy.

Hắn mất thế chủ động. Thuỗn ra. Con lắc dễ hỏng hóc trong ngực hắn rệu ra rồi lại chồm lên, khủng bố hắn. Nhỉ? Sao lạ? đi rước hũ tro cốt của người tình cũ về báo ơn đáp nghĩa mà sao cứ bí mật, cảnh vẻ như săn lùng cái gì ngoài tầm kiểm soát của trí khôn? Đã đúng chốn, đúng người thì cứ việc cảm tạ, đốt nhang ra chùa, nếu muốn, rồi thì là rước đi… Đẹp, cẩn trọng và giàu sổi như cái nhà bà “nửa vầng trăng khuyết” này, lạy giời, có thể thêm thắt vào mục hậu tạ bằng mấy “vé” xanh…Không! hắn cần gì đến tiền vào lúc này nữa? Được dứt khỏi những cơn ngứa… Ờ mà không! hắn tiêng tiếc những câu chuyện bù khú tay đôi giữa hắn với Tấn. Cả những câu chuyện hôi hám trên giừơng mà chàng trai thánh thiện gà mờ Tấn cứ đực ra nghe hắn mọi khi… Không, hắn sẽ không nhận tiền! Bà Nguyệt hãy dùng tiền ấy vào công chuyện thiết thực hơn cả là minh oan cho anh Tấn. Cho cả cái chết không nhân qủa của mẹ ảnh…

- Để anh đủ tin cậy trong quá trình giao hàng, tôi đưa anh xem những giấy này như đã hứa. Nhưng trước hết… Này! ta “kiểm tra” các cái này đi đã nào. - bà mở rượu - Tháng Chín mới rồi tôi chén món ca-via phết bánh ba-ghét Ý ở Meo-bờn. Hết ý! Các anh có tưởng ra được cái không khí cộng đồng nhân loại đan kết vào với nhau đậm đà như thế nào khi mà mùi vị bùi ngậy của trứng cá Nga hoà vào chất mùa thu vĩnh viễn của những cánh đồng Ý-đại-lợi ngấm trong bột mỳ nặn bánh… Hương vị ấy được thổi bùng lên nhờ có gió tại các eo biển châu Úc mới ác chứ!

Hắn nhấc miếng pho-mát “Con bò cười” lên, không bỏ lọt tai những câu chuyện ca tụng con đường thiêng liêng từ lưỡi tới dạ dầy của nhà truyền giáo tân thời Bán Nguyệt làm gì. Hắn lơ đãng nhìn vào đám giấy tờ trước mặt. Hình như chúng là phó bản của những giấy thanh toán tiền nong thì phải. Số tiền mà những người chủ các chữ ký thắt buộc nhau lại kia to lớn ngoài cả thói đếm giản dị hắn từng biết. Bà Nguyệt ợ một cái ròn tan:

- Lần đầu tiên tôi tiếp xúc xô-lô thế này đấy. Chính là vì tôi tin anh sau chuyến anh ra Hà Nội năm ấy. Song tôi cũng trách sự ấu trĩ của anh về những gì anh viết trong thư để lại ở chỗ văn phòng trung tâm. Này nhé: “Mong chị vô lẹ để mà nhận lại bộ hài cốt mà chị hằng trông đợi vì tôi hiện còn đang giữ tất cả các giấy má do chính tay đương sự viết…”. Có thấy nó hở hang không nào? Tô hô ra thế… có ngày “đai” sớm!

Hắn giật mình cúi nhìn chỗ giữa hai đùi hắn theo như lối tả của bà Nguyệt về các cái “boát” xa xôi nào bên trời tây. Thấy yên tâm, hắn cởi mở:

- Chị biết sao không? Tôi ẵm ổng ra, lại ẵm vô. Muốn oải! Nhưng nhờ vô những cảnh sắc Bột xuyên đẹp mê hồn với lại… Nhưng mà thôi, bữa nay có chị vô thế này, có cả chú gì đây nữa, tôi xin trao lại y chang, khỏi thừa thiếu món nào.

- Anh đã mang bộ hài cốt đó ra tận Hà Nội?

Hắn “chứ sao”, rồi hấp tấp lên lầu, lật đật ôm cái bòng quân dụng cũ mục nhưng còn chứa được và đủ tất thẩy hơi hướng, trọn vẹn cuộc đời ngắn ngủi cùng với tình yêu trong suốt của một người lính - hắn chưa tường mặt mũi song từng chung chạ bấy nay - xuống bàn tiệc. Hắn thân thiện:

- Phải nói tình cảm mấy anh chị ngày đó mãnh liệt có hạng đó nghe. Nhưng đọc thêm mấy tờ còn rõ chữ này, chị sẽ càng kính thương anh Tấn hơn đó nghe. Thôi bây giờ tôi với chú - hắn vỗ vai người lái xe - ta ra ngoài, để chị Bún có chút đỉnh thời gian tĩnh trí. Lát vô, tôi đưa lên lầu thắp nhang, xong rước cốt ảnh ra xe cho ngon.

Bán Nguyệt thất sắc khiến người vệ sỹ khựng ngồi:

- Khoan đã! Anh vừa nói Tấn nào nhỉ?

Hắn bắt đầu ngứa ngáy từ cổ, triệu dị ứng tái phát:

- Giỡn hoài! Thế không phải chị tới rước cốùt ảnh sao?

…Không, cõi trần vô thường mà cũng chẳng luân hồi luân hiệc gì cho lắm như bao kẻ tạ sự hay nghĩ. Hai người đối thoại trong câu chuyện này đều ích kỷ. Họ cứ vận vào mình những định nghĩa riêng, chỉ riêng mình hiểu. Bà Nguyệt đi săn lùng những bộ hài cốt lính viễn chinh hời giá. Bà không sao nhớ nổi Tấn là ai trong cái bộ nhớ đã cài đặt “phần mềm” vô cùng hợp thời của bà. Cho nên bà ngạc nhiên cách nông nổi như vậy là “chuẩn”. Hắn nổi mề đay. Từ giờ trở đi thì không cần và không chỉ tráng qua một gánh phở có nước lèo hầm xương hay đơn giản, rắc bột ngọt suông thôi đâu đấy. Rõ khổ!

Tháng 5/1993

Chú thích:
(1) Sống kiểu "boóc-đuya": ý nói sống kín đáo; lặn trong những cái "boát" nhỏ: ý nói những hộp đêm.
 
 
Nguồn: evan.com.vn

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z