Hai người đàn bà
Phạm Chuyên

 
Tình cờ tôi gặp được người con trai út, một trong năm người con ông để lại trên đời này trước lúc ra đi. Người con út của ông, càng lớn trông càng giống ông, cả về ngoại hình, cả về nhân cách. Cái nhân cách thể hiện qua lời lẽ, qua ngữ điệu mà anh kể cho tôi nghe về mối tình của cha anh với hai người đàn bà. Một người là mẹ đẻ anh, một người là vợ hai của cha anh.

Ông cụ thân sinh ra cha anh là một bậc túc nho ở vùng quê Tam nguyên Yên Đổ (*). Các cụ đồ nho quê mình giống nhau ở tri thức uyên thâm. Cụ đồ nào cũng là một loại biểu tượng văn hóa của làng xã quê nhà. Dạy chữ, dạy người. Mỗi cụ chẳng biết đã cho chữ bao người, nhất là mỗi độ xuân về, tết đến, mỗi độ hoa mai, hoa đào nở. Vậy mà thân phận các cụ thì khác nhau. Người giàu sang, kẻ bần hàn. Ông cụ thân sinh ra cha anh thuộc lớp giàu sang của làng. Cha anh đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ, đã lớn lên trong cái văn hóa Nho giáo gốc, trong cái văn hóa làng quê, đặc quánh tới mức mà cái văn hóa thị thành, cái văn hóa phương Tây không tài nào vượt qua được cái cổng làng, không len lỏi được đến lũy tre làng. Thuở ấy, cha anh chỉ biết có chữ Nho. Chỉ biết sống và ứng xử trong khuôn phép những lễ nghĩa, những trí tín của những bậc quân tử. Trong bộ cánh mầu nâu cánh gián hoặc mầu gụ sẫm phẳng phiu, hoặc lượt là trong áo the, khăn xếp, cha anh là ước vọng yêu thương, là căn nguyên của bao nỗi thầm mơ, trộm nhớ của không ít người con gái trong vùng. Ông thanh tú trong vóc dáng, thanh tao trong cái tinh thần toát ra từ gương mặt, từ đôi mắt tươi và thân thiện. Người ta có thể nhận ra sự khác biệt đến cao sang của ông từ nhiều góc nhìn cụ thể. Một mái tóc đen mượt. Một cái đầu cân đối. Một cái cổ vững chắc. Một đôi mắt dài... Nhưng mà, trời chả cho ai hoàn thiện cái gì cả. Người đời giống nhau ở sự không hoàn thiện. Chỉ có điều cái không hoàn thiện ở người này tô điểm thêm cho những cái tưởng là hoàn thiện. Còn ở người kia, cái không hoàn thiện làm xấu đi, làm mất đi cái tưởng là hoàn thiện. Ông có một mụn thịt thừa chếch ở phía bên trái chiếc cằm thanh tú cỡ vừa bằng hạt đậu xanh. Thật là trời cho. Giả dụ cái mụn thịt ấy mà nằm chếch ở mép phải hoặc mép trái thì thật là tai họa (!). Cái không hoàn thiện ấy có thể phá vỡ vẻ cân đối của một gương mặt. Cũng có thể thay đổi cả một nhân cách... Có trời mà biết được!

Cái "hạt đỗ" trên gương mặt càng làm cho ông trở nên thân thiện hơn với mọi người, gần gũi hơn với mọi người. Có lẽ vì thế mà, sau này, trong cái nghề "làm dâu trăm họ" của ông - nghề lái xe hành khách đường dài thời bao cấp, thời chiến tranh - khi được việc và cả khi không được việc người ta chả ai trách móc gì ông, chả lúc nào to tiếng với ông. Người đời thường đáp lại nụ cười thân thiện của ông bằng sự chia sẻ.

Cách mạng, chiến tranh xô đẩy. Rời bỏ làng mạc, quê quán, ông trở thành người Hà Nội. Nhưng năm hòa bình mới lập lại, cả miền bắc là công trường, là nông trường, là hợp tác xã. Người lao động chân tay là một mẫu người lý tưởng của một thời. Là công nhân, là nông dân, là xã viên hợp tác xã nghĩa là được vinh danh. Thế là ông trở thành công nhân lái xe lúc nào ông đâu có tính trước. Thời thế tạo anh hùng. Thời thế sắp đặt con người làm việc này, làm việc kia; người ở bên này, người ở bên kia. Không biết đối với người khác là như thế nào? Vận vào mình thì ông thấy cổ nhân quá đúng.

Khỏe mạnh, thông minh, luôn có được thiện cảm với những người chung quanh. Đấy là tiêu chí lý tưởng để những người lãnh đạo đoàn xe trao cho ông nhiệm vụ lái xe chở hành khách đường dài tuyến Hà Nội - Tây Bắc nổi tiếng. Bây giờ thì lái xe là một nghề quá ư bình thường. Bình thường như việc một cô gái, một chàng trai đến tuổi trưởng thành, đến tuổi lập nghiệp xỏ chân vào một đôi giày mới thong dong bước vào trường đời. Còn lúc bấy giờ, lái xe là một nghề "vua". Ai đã từng chứng kiến cảnh tượng hàng đoàn ngủ gà ngủ gật, xếp hàng rồng rắn vòng trong vòng ngoài, chen chúc, xô đẩy ở nhà ga, ở bến xe, bến tàu, dòng người vòng vèo qua nhiều con phố, kéo dài hàng cây số để có được một tấm vé trên tay mới thấy cái nghề lái xe, lái tàu quả là một nghề "vua" một thời.

Các bác tài, các phụ xe dám chắc rằng những người ăn vận thời trang nhất lúc bấy giờ. Hoặc áo dài đại cán Tôn Trung Sơn, hoặc áo bu-dông kiểu dáng ngắn gọn gàng. Các bác tài người Hà Nội như ông còn khoác cả complê đờ-mi. Mùa đông còn quàng cả những dải khăn len trang nhã. Dùng bữa ăn sáng nhẹ. Một tách cà phê phin Hà Nội. Các bác tài thư thả bước lên xe rời Hà Nội, băng trên con đường thiên lý với bao nhiêu thân phận con người...

Cả năm năm. Cả mười năm. Cả hai mươi năm... Ông, với cái nghề "vua", với một gia đình ấm êm, từng là niềm khát khao của không ít người. Một người vợ, theo đúng nghĩa là người "nâng khăn sửa túi", năm người con, trai có, gái có, người nào cũng là những nhân cách xứng đáng. Những tưởng dòng đời cứ thế mà trôi đi êm đềm, cứ thế mà trôi đi không xô vào những mạch nước ngầm... Người đời dễ mấy ai để ý tới những mạch nước ngầm, dễ mấy ai gặp những mạch nước ngầm. Thế rồi, đột nhiên, một sự kiện cảm thương đã xảy ra với đoàn xe của ông. Cô tổ trưởng tổ bán vé của đoàn xe, một thiếu phụ đang độ xuân sắc, có hai mụn con, một trai, một gái, đứa mới năm tuổi, đứa vừa đầy năm, thì người chồng đột ngột ra đi... Cả đoàn xe, của ít lòng nhiều, người nào cũng có phần đóng góp để đỡ đần cho người mẹ trẻ cùng hai đứa con. Là một người nhân hậu và gắn bó với gia đình đầy mẫu mực, ông thấu hiểu thế nào là khó khăn, thế nào là hụt hẫng với một người đàn bà, khi nhà vắng bóng người đàn ông trụ cột. Ông cũng đóng góp một phần thu nhập như chủ trương của công đoàn cơ quan phát động để giúp đỡ chị và những đứa con.

Làm cái nghề "vua" thời bấy giờ không chỉ được người đời cầu cạnh, người đời bắt quen, làm thân, vì nể mà còn được những khoản thu nhập phụ. Trên tuyến đường dài, ngoài số vé bán theo quy định, các phụ xe còn "bắt" thêm người và hàng hóa giữa các cung đường. Thế nên lái xe và phụ xe mặc nhiên có thêm những khoản thu nhập phụ, những khoản thu nhập nhiều khi còn hậu hĩnh hơn cả lương chính. Nhân hậu mà khái tính, ông từ chối nhưng khoản "lại quả" của người phụ xe sau mỗi chuyến đi. Mỗi lần như thế, ông bảo: "Chú cứ cầm lấy mà lo chuyện cơm nước". Lương xướng cứ đến kỳ là ông giao đủ cho bà ở nhà. Chi phí dọc đường đã có người phụ xe quản lý và lo toan. Tháng tháng, năm năm đã là như thế, vẫn là như thế. Thật là một nghề "vua", một phong cách "vua"!

Rồi bỗng một ngày, không biết cái gì xui khiến, ông bảo người phụ xe trích ra một khoản thu nhập phụ từng chuyến đi của hai người giao cho mẹ con cô tổ trưởng tổ vé. Người phụ xe hỏi ông: "Độ bao nhiêu?". Ông bảo: "Tùy chú!". Năm qua đi, tháng qua đi, gia đình ấy hồi sinh. Người ta nghe thấy tiếng khúc khích, bi bô của hai đứa trẻ. Người ta nhận thấy vẻ thanh thản, tự tin trên gương mặt thiếu phụ. Còn với riêng ông, ông thấy thật ấm lòng.

Vào thời buổi đó, phương tiện giao thông thiếu thốn lắm. Những chiếc xe chở khách "cải tiến" từ xe vận tải đâu có nhiều. Hành khách tuyến đường dài đi Tây Bắc thì đông. Họ là bộ đội, là công an biên phòng, công nhân nông trường, là dân đi kinh tế, là giáo viên vùng cao... Rất ít hành khách là người đi buôn, đi bán. Đoàn xe của ông sử dụng đến hết công suất mà hành khách lúc nào cũng xếp hàng dài chờ đợi. Ông ít có thời gian sum họp với gia đình. Ít có thời gian có mặt ở đoàn xe. Ngay cái phòng bán vé của cô tổ trưởng ở ngay trụ sở của đoàn xe, ông hầu như chẳng có lúc ghé qua. Vì thế, ông cũng ít có cơ hội gặp ba mẹ con cô. Họ gặp nhau chỉ qua cái vẫy tay chào và ánh mắt. Rong ruổi trên nhiều cung đường, nhiều tuyến đường, ông đã gặp bao nhiêu người là người. Đã vui vẻ dừng xe bao nhiêu lần nơi hoang vắng, giữa màn đêm, trên đỉnh núi, dưới chân đèo... Bao nhiêu con người đã bước lên chiếc xe của ông sau khi đã trải qua tình trạng đợi chờ tuyệt vọng và hy vọng trong đêm hôm khuya khoắt, trong chiều ba mươi Tết, đêm ba mươi Tết... Ông không còn nhớ nữa. Cũng như ông không còn nhớ những khoản phụ thu mà ông bảo người phụ xe của ông đưa cho cô tổ trưởng. Ông cũng không bao giờ hỏi người phụ xe là đưa bao nhiêu? Đưa bao nhiêu lần? Câu chuyện giao nhận diễn ra như thế nào?

... Một chiều ba mươi Tết, cô tổ trưởng tổ vé đón ông ở bến xe, khi chuyến xe sau cùng của ông vừa đưa những hành khách cuối cùng của một năm về đến Hà Nội. Cô bảo năm hết Tết đến rồi, cô muốn được nói chuyện với ông. Họ đến phố Quán Sứ, ngồi đối diện nhau trong một quán cà phê. Cô rút từ chiếc túi xách vải bạt, xanh mầu bộ đội ra một bọc gói bằng tờ báo, kích cỡ bằng cục gạch, trao cho ông. Cô bảo: "Em biết ơn anh. Em xin gửi lại anh!". Bất cứ người đàn ông nào biết tự trọng và tinh tế đều có thể hiểu rằng bên trong lớp giấy báo kia là cái gì. Ông bàng hoàng, tê tái. Cô vội đứng dậy, tức tưởi từ biệt ông.

Sau cái chiều ba mươi Tết ấy, người phụ xe trao cho ông một bức thư của cô tổ trưởng viết, nhờ gửi cho ông. Thì ra ngày ấy, cái ngày cô được nhận vào làm việc ở phòng vé của đoàn xe, từ lần gặp mặt đầu tiên, từ cái nhìn đầu tiên, cô đã đem lòng yêu ông. Còn son rỗi, biết ông đã có gia đình, cô bàng hoàng, mất ăn mất ngủ nhiều đêm. Cô định bụng xuống xin thôi việc, tìm kiếm công việc ở cơ quan khác. Dùng dằng thế nào đấy, không biết được, cô lại thôi. Cô chuyên tâm vào công việc. Làm việc có uy tín. Cô được cơ quan giao cho công việc tổ trưởng tổ bán vé. Rồi cô lấy chồng và sinh con đẻ cái. Cái tình yêu đơn phương thời con gái đâu có sâu sắc gì. Lửa rơm. Chỉ một làn gió thoảng chả còn thấy tro than gì. Một gia đình, một người chồng, những đứa con. Những chân kiềng của hạnh phúc muôn đời những người đàn bà... Trong những lúc chênh vênh, ngây dại, nhận những món tiền của cơ quan, của đồng nghiệp, của bạn bè, cô chả suy xét gì. Nhưng từ cái ngày nhận khoản tiền từ người phụ xe mang đến, nói là của ông gửi cho mẹ con cô, cuộc sống của cô đã bị xáo trộn, bị đảo lộn. Những gói tiền đó, cô chẳng bao giờ tính đếm. Cô chỉ giữ chặt chúng, áp vào lòng mình. Cô vuốt ve chúng. Cô cẩn thận sắp đặt gói ghém chúng. Cô ôm ấp chúng vào lòng trong giấc ngủ đêm đêm. Những lúc cô đơn, cô lần giở chúng mà nhìn mà trông... Rồi một đêm như nhiều đêm, cô ôm cái bọc của ông nằm ngủ. Trong mơ, cô nghe thấy một tiếng người bảo: "Chúng tôi không phải là tiền". Và đấy là lý do cô hẹn gặp lại ông và gửi lại cho ông.

Cầm trong tay bức thư, ông đang xem như một thước phim quay ngược. Ông gặp lại cái nhìn đầu tiên của một người con gái mới được tuyển vào phòng vé của đoàn xe. Cái ngày mà cô kéo bật cánh cửa xe, bước lên để soát vé. Ông ngoái lại nhìn cô mỉm cười.

Người con trai út của ông kể đến đây thì buông ra một câu: Thế là... Thế là... Từ cái chiều ba mươi Tết ấy, ông tiếng nhỏ tiếng to gì với mẹ anh, rồi ông ra ở hẳn với cô tổ trưởng. Anh cũng không thấy mẹ anh nói gì với các con. Tịnh không thấy mẹ anh tiếng to tiếng nhỏ gì cả. Nhưng năm nào cũng như năm nào, cả thảy gần ba mươi năm, đêm giao thừa nào ông cũng về nhà thắp hương. Sáng mồng một nào ông cũng về nhà dùng cơm với vợ con. Mùng ba Tết nào ông cũng về nhà làm lễ hóa vàng.

Có một Tết, chiều ba mươi, mọi người đang quây quần, mẹ anh bỗng khẽ khàng, như một tiếng thở dài: "Chả nhẽ ông không biết bảo cô ấy nói với tôi một câu?". Biết là ông bà đã đến lúc cần nói chuyện với nhau, cả nhà con cháu lặng lẽ lui ra. Chả biết hai người nói với nhau những gì. Chỉ biết hôm sau, sáng mồng một Tết, ông dẫn cô tổ trưởng về. Người ta nghe thấy trong nhà có tiếng chị chị, em em. Và từ đấy, cứ thấy ông đi đi, về về; nụ cười thân thiện luôn cởi mở trên khóe mắt.

Những năm cuối đời ông, có lần, khi mẹ anh phải sang Đức thăm đứa con gái làm ăn bên đó, bà bảo: "Ông về trông nhà cho tôi". Khi bà về nước, ông lại bảo: "Tôi giao lại nhà cho bà". Sau khi ông mất, bà còn sang bên Đức một đôi lần. Những lần đi ấy, không còn ông, bà gọi cô tổ trưởng sang mà bảo: "Em về trông nhà cho chị".

Hai người đàn bà và một người đàn ông, dễ mấy khi bắt gặp trên cuộc đời này. Khó có thể tin được dù đó là sự thật. Nhưng đó vẫn là sự thật. Vì đó mà tôi gấp gáp ghi lại những dòng này, những muốn tri âm với ông, người lái xe mà tôi từng gặp, người đã từng đưa tôi lên những cung đường tưởng như muộn màng tuyệt vọng mà vẫn kịp có mặt trong chiều ba mươi Tết, trên từng chuyến xe, trên những nẻo đường Tây Bắc xa xưa thời trai trẻ...

(Hà Nội, 13 giờ 6 phút mồng 7 Tết Ất Dậu)

Chú thích:
(*) Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835-1909) quê ở làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, Hà Nam, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo. Ba lần thi: thi hương, thi hội, thi đình, ông đều đỗ đầu nên thiên hạ thường gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ. Sáng tác của ông, với tư cách là một nhà thơ hàng đầu viết về nông thôn, một trong những nhà thơ hiện thực phê phán tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, gồm khoảng 200 bài thơ chữ Hán và 100 bài thơ chữ Nôm.
 
 
Nguồn: nguyenxua

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z