Hai con chó
Vĩnh Quyền

 
áo bà ba bà Ba
Không phải tôi viết thừa chữ đâu nhé. ấy là chiếc áo bà ba của bà Ba. Của mẹ tôi. Người phụ nữ thứ ba trong đời ba tôi. Tuy thứ ba nhưng ở lĩnh vực nào so với hai bà trước đấy thì đều nhất hết: Trẻ nhất, đẹp nhất, làm kinh tế giỏi nhất, là người duy nhất đẻ ra một thằng con trai, và tất nhiên được ba tôi yêu cưng nhất... Chỉ có cái nhất cuối cùng là đau đớn cho cha con tôi: Mệnh yểu nhất. Mẹ tôi mất khi mới ba mươi hai tuổi. Năm ấy tôi lên mười.

Ba tôi không phải là người được đào tạo để làm nhà nghiên cứu nhưng ông có thói quen cất giữ tài liệu, nhất là kỷ vật. Chỉ trong phạm vi cá nhân, gia đình thôi. Từ những bức thư ngả vàng đến bàn cờ tướng của nội tôi. Ông cụ đang chơi cờ với bạn, thấy mệt rồi mất ngay sau đó. Ba tôi dùng keo dán giữ nguyên bàn cờ với thế cờ dở dang cuối cùng của ông cụ. Kỷ vật này được trưng cất trong một tủ kính tại gian thờ phụng. Còn với mẹ tôi, ông cất giữ gần như nguyên vẹn những vật dụng thân thiết.

Đáng nói là, theo tập tục, y phục của người mất phải "hoá", nghĩa là phải đốt bỏ đi. Thế nhưng ba tôi lén giữ được một chiếc áo bà ba cũ của mẹ tôi. Mãi về sau, khi kinh tế gia đình sa sút, không giữ được ngôi biệt thự với vườn cây lưu niên, phải chuyển về nhà cũ của nội, mới lộ ra bí mật này. Từ ngày chuyện đã công khai, cứ sau những tháng mưa dầm xứ Huế, ba tôi lại trịnh trọng đem chiếc áo bà ba của bà Ba ra hong nắng mới dưới mái hiên. Những lúc ấy ông thích ngồi một mình với áo bà Ba và với thuốc lá...

Khi ba tôi không còn đủ sức khoẻ để làm những gì ông muốn, tôi và vợ tôi mới được hong áo mẹ tôi trong những ngày nắng đẹp. Tất nhiên là dưới sự giám sát của ba tôi. Về làm dâu chưa được mấy ngày thì vợ tôi đã phải khóc với chiếc áo cũ.
Hôm ấy trời đất chuyển mùa, ba tôi nằm thở mệt nhọc trên sập gụ, nhìn mông lung qua ô cửa sổ, bỗng ông nhận ra những tia nắng mới xuất hiện, đậu vàng trên những tán lá còn sũng nước mưa. Ông gọi con dâu mở tủ lấy áo của bà Ba ra hong. Vợ tôi tuân lệnh. Lần đầu tiên trông thấy chiếc áo ấy, vợ tôi che miệng cười khúc khích. Chuyện không qua được mắt ba tôi. Nổi cơn giận lẫy bất ngờ, ông chống gậy tự mình hong áo. Vợ tôi hoang mang, chỉ biết khóc với tôi sau đó.

Thực ra, ai thoạt trông thấy chiếc áo bà ba của bà Ba cũng có thể bật cười như cô con dâu mới của bà. Nó kỳ dị với hai cái túi không cân phân. Bên phải kích cỡ bình thường, không có gì phải bàn. Bên trái mới ngộ, lớn hơn bên phải đến chừng năm lần! Rõ là không có tay thợ may nào vụng đến thế. Mà là may theo "mốt" của người đặt hàng. Và tay thợ may mới là người bật cười đầu tiên.

Đó là chiếc túi đặc biệt dành cho con chó phốc tí hon rất cưng quý của mẹ tôi trong những năm cuối đời.

Túi bên phải đựng tiền lẻ và các thứ lặt vặt cần thiết như xâu chìa khoá, bật lửa như mọi người... Còn túi bên trái là để con chó sau những lúc chạy rông trong nhà ngoài sân... nhảy phốc vào chỗ nương náu của bà mẹ người dành riêng cho nó. Mẹ tôi xưng mẹ con với nó. Ngọt ngào thương cảm không kém gì với tôi. Ba tôi bảo bà Ba "địu" con phốc đi chợ như phụ nữ dân tộc "địu" con lên rẫy. Có khi ông lại ví bà Ba là con căng-gu-ru bên hoang mạc Châu úc... Con phốc láu lắm, nó đặt hai chân trước lên miệng túi, đầu thò hẳn ra ngoài, vênh váo nhìn chung quanh, biết mình được bảo vệ bởi người có quyền lực nhất trong ngôi nhà. Không ai bảo ai, nhưng ba tôi và tôi có lúc phải ganh tị với con chó nhỏ xíu bằng chai bia lùn ấy. Sau này, chúng tôi nhìn nhận rằng nó đáng được như thế. ấy là lúc mẹ tôi lâm chung. Mỗi cây trong vườn cây lưu niên của gia đình đều được chịu tang bởi những dải khăn sô buộc vào cành lớn nhất. Trên hai mươi dải khăn trắng bay vật vờ trong ánh tà dương hoặc trong làn sương mai ảm đạm se lạnh làm tuổi lên mười của tôi nhận thức sâu hơn, cụ thể hơn thế nào là nỗi đau mất mẹ. Sinh vật nhỏ bé nhất trong gia đình chịu tang bà Ba là con chó. Nó được ba tôi âu yếm quàng dải khăn sô bé tí vào cổ. Trông thật ngộ nghĩnh. Nhưng không ai dám cười trong những ngày ấy.

Người Huế xưa cho cây trong vườn chịu tang chủ vì hai lẽ. Chia sẻ, hoặc nhân lên nỗi đau mất mát người thân. Và để cho cây không tàn héo chết theo người. Tất nhiên là phải người trồng ra chúng, chăm sóc chúng; hoặc là người quan trọng nhất trong gia đình, là linh hồn của ngôi nhà, vườn cây...

Cây vườn tôi không chết vì được chịu tang bà Ba. Nhưng con chó nhỏ thì không gì cứu được. Nó không sủa, không ăn và nằm chết lẳng lặng trong góc phòng bà Ba ba ngày sau tang lễ, đúng vào hôm cúng mở cửa mả.

Cứ mỗi dịp chuyển mùa, từ mưa sang nắng, mỗi lần hong áo bà ba bà Ba, chúng tôi không chỉ nhớ người, nhớ cả con vật bé bỏng, mà khoảng trống của túi áo kỳ dị kia luôn gợi nhớ...

Bữa tiệc màu huyết dụ
Có người bảo Huế là thành phố của những người theo đạo Phật. Kể cũng có lý. Bình minh và hoàng hôn Huế xao xuyến với những hồi chuông u minh trầm mặc của trên 60 ngôi chùa trong một không gian gắn bó. Và cũng có thể vì người Huế có truyền thống không ăn thịt chó, một đặc điểm trong sinh hoạt của những người theo đạo Phật.

Còn nhớ năm nào đã xa ở làng hoa trái Nguyệt Biều, trên ban công căn gác gỗ nhà thờ họ Lê nhìn ra quãng sông Hương tĩnh mịch gần như đối diện chùa Linh Mụ, trong ánh sáng nhập nhoạng trước lúc hoàng hôn buông xuống thật sự, tôi đang gõ máy chữ viết nốt những trang cuối cuốn tiểu thuyết đầu tay, bỗng có tiếng gọi giật vọng lên từ ngoài cổng. Bực mình thật. Tôi chờ đợi cái dấu chấm hết này đã hai năm ròng rã.

Nhưng đấy lại là tiếng gọi lạc giọng của Mỵ, cô bạn thời mài đũng quần trên ghế giảng đường đại học văn khoa, cũng là người cho tôi sử dụng ngôi nhà thờ họ Lê làm "trại sáng tác". Mà với tôi bấy giờ, cuốn tiểu thuyết và Mỵ, không biết "ai" quan trọng hơn. Tôi vội chạy xuống cầu thang gỗ nhá nhem tối, qua gian thờ rộng thênh lạnh giá, qua vườn hoa già cỗi lát đá Bát Tràng xanh rêu để gặp Mỵ. Hẳn có chuyện khác thường vì giờ này đáng ra Mỵ phải ở nhà lo bữa cơm tối của gia đình, cách ngôi nhà thờ họ khoảng hai cây số, cũng bên bờ sông.

"Anh cứu nhà em với!".

"Nhà em", chồng Mỵ, là Thạch, ông bạn vong niên của tôi. Tôi trở thành bạn của ông khi ông cưới Mỵ. Ông Thạch thỉnh thoảng vẫn cứu tôi trong vài trường hợp, vài tình huống. Còn tôi không bao giờ dám nghĩ có lúc mình sẽ cứu được ông Thạch. Tôi chẳng có gì cả, chẳng là cái gì cả, trong khi ông ấy là một đại gia, về kinh tế cũng như về quan hệ xã hội. Cho nên khi Mỵ nhìn tôi bằng ánh mắt cầu xin và thốt ra lời kêu gọi như thế tôi chỉ đoán già đoán non rằng ông Thạch bị đột quỵ hay đại loại như thế và Mỵ cần tôi giúp đưa đi bệnh viện cấp cứu chẳng hạn.

Biệt thự Gia Khánh chìm trong bóng tối. Đúng hơn là hiện ra dưới sáng lập loè của một màu hồng ma thuật bởi mấy chục ngọn đèn lồng lớn nhỏ. Mỵ le te đưa tôi ra thẳng vườn hoa phía sau, nơi tiếp giáp bờ sông. Một bàn tiệc khéo bày biện dưới ánh nến còn nguyên mà thực khách duy nhất là chồng Mỵ. Ông Thạch lặng lẽ ngồi nhìn ra mặt sông tối mịt, không nhận ra có tôi và Mỵ đã đến sau lưng. Hai cây số đường xe máy từ nhà thờ họ Lê đến biệt thự Gia Khánh đủ cho Mỵ cung cấp thông tin sơ bộ về "ca cấp cứu" này.

Ông Thạch muốn ký một hợp đồng lớn với công ty khai thác chế biến gỗ Đài Loan. Có đối thủ cạnh tranh, ông Thạch tìm mọi cách để lấy được
 
 
Nguồn:

Tựa đề:

#

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z

Tác giả:

A

B

C

D

Đ

E

F

G

H

I

J

K

L

M

N

O

P

Q

R

S

T

U

V

W

X

Y

Z